Bước tới nội dung

Chris Columbus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chris Columbus
Columbus vào năm 2025
SinhChris Joseph Columbus
10 tháng 9, 1958 (68 tuổi)
Spangler, Pennsylvania, Hoa Kỳ
Quốc tịchAmerican
Học vịJohn F. Kennedy High School
Trường lớpNew York University
Nghề nghiệpNhà làm phim
Năm hoạt động1984–nay
Phối ngẫuMonica Devereux (cưới 1983)
Con cái4

Christopher Joseph Columbus[1] (sinh ngày 10 tháng 9 năm 1958) là một nhà làm phim người Mỹ. Sinh ra tại Spangler, tiểu bang Pennsylvania, ông theo học ngành điện ảnh tại Trường Nghệ thuật Tisch thuộc Đại học New York, nơi ông bắt đầu bén duyên và nuôi dưỡng niềm đam mê với nghệ thuật thứ bảy. Sau khi chắp bút cho kịch bản của hàng loạt tác phẩm hài tuổi teen vào giữa những năm 1980 như Gremlins, The Goonies và Young Sherlock Holmes, ông chính thức chạm ngõ đạo diễn với bộ phim phiêu lưu dành cho giới trẻ Adventures in Babysitting (1987). Tên tuổi của Columbus nhanh chóng vươn tầm thế giới không lâu sau đó nhờ thành công rực rỡ của bộ phim hài Giáng sinh kinh điển Ở nhà một mình (1990) cùng phần hậu truyện Ở nhà một mình 2: Lạc ở New York (1992).

Bộ phim hài Bảo mẫu giả danh (1993), với sự góp mặt của tài tử Robin Williams tiếp tục là một thắng lợi lớn về doanh thu phòng vé của Columbus. Dù tiếp tục làm đạo diễn cho hàng loạt tác phẩm trong suốt thập niên 1990, các dự án này phần lớn chỉ nhận được phản hồi ở mức trung bình. Tuy nhiên, ông đã lấy lại phong độ thương mại đỉnh cao khi cầm trịch hai phần phim chuyển thể từ tiểu thuyết của nhà văn J. K. Rowling: Harry Potter và Hòn đá Phù thủy (2001) và phần tiếp theo Harry Potter và Phòng chứa bí mật (2002).

Columbus sau đó đảm nhận vai trò nhà sản xuất cho Harry Potter và Tên tù nhân ngục Azkaban (2004) và tác phẩm tâm lý Người giúp việc (2011), bộ phim mang về cho ông một đề cử giải Oscar ở hạng mục Phim hay nhất. Ông cũng đạo diễn bộ phim kỳ ảo Percy Jackson & Kẻ cắp tia chớp (2010) và tác phẩm hành động - hài 3D Đại chiến Pixels (2015). Trong dự án kế tiếp, Columbus sẽ đồng thời đảm nhiệm vai trò đạo diễn, đồng thủ kịch bản và nhà sản xuất cho phần phim được mong đợi từ lâu Gremlins 3, dự kiến khởi chiếu vào ngày 19 tháng 11 năm 2027.

Columbus cũng là đồng sáng lập của 1492 Pictures, công ty sản xuất điện ảnh đã đồng hành cùng nhiều dự án của ông từ năm 1995. Gần đây hơn, ông tiếp tục bắt tay với con gái mình để thành lập Maiden Voyage Pictures vào năm 2014. Bên cạnh đó, Columbus còn nổi tiếng với mối duyên hợp tác ăn ý cùng nhà soạn nhạc lừng danh John Williams, người đã đồng hành và thổi hồn âm nhạc vào hai phần đầu của series Ở nhà một mình cũng như hai tập phim Harry Potter đầu tiên.

Sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

1984–1990: Gặt hái những thành công đầu tiên

[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp của Columbus bắt đầu khởi sắc vào đầu những năm 1980 với vai trò biên kịch cho bộ phim điện ảnh Reckless (1984). Sau này Columbus thừa nhận: "Đó chưa phải là tác phẩm tốt nhất của tôi. Vốn dĩ tôi muốn viết theo hướng bán tự truyện... dựa trên những nỗ lực bứt phá của chính bản thân. Nhưng vị đạo diễn lại biến nó thành một bộ phim hài - tình cảm tuổi teen vụng về, và trải nghiệm đó thực sự tồi tệ."[2] Không hài lòng với kết quả đó, Columbus đã thai nghén một kịch bản mới ngay trong căn hộ gác xếp của mình, một tác phẩm hài - kinh dị mang tên Gremlins (1984). Vào cuối năm 1981, ông nhận được cuộc gọi từ Steven Spielberg, người bày tỏ nguyện vọng muốn mua lại kịch bản này. Ngay khi ra mắt, bộ phim đã gặt hái thành công vang dội về mặt chuyên môn. Columbus sau đó chuyển đến Los Angeles để làm việc cho hãng Amblin Entertainment của Spielberg, tiếp tục chắp bút cho nhiều kịch bản khác bao gồm The Goonies và Young Sherlock Holmes (cùng ra mắt năm 1985).[2]

Sau hai năm sinh sống tại Los Angeles, ông bộc bạch: "Nơi đó có một sự xa rời thực tế, thiếu đi sự kết nối với những con người chân thực."[3] Ông quyết định quay trở lại thành phố New York. Tại đây, ông viết kịch bản cho một số tập của loạt phim hoạt hình Galaxy High (1986) và được ghi nhận vai trò biên kịch trong Little Nemo: Adventures in Slumberland (1989). Columbus sau đó chính thức bước chân vào con đường đạo diễn với bộ phim hài tuổi teen Adventures in Babysitting (1987). Tác phẩm nhận về những phản hồi trái chiều từ giới chuyên môn và bị đánh giá là một "màn ra mắt xoàng xĩnh".[4] Tiếp đó, ông tự tay viết kịch bản và đạo diễn Heartbreak Hotel (1988), câu chuyện kể về việc Elvis Presley bị bắt cóc rồi bất ngờ trở thành người đưa ra lời khuyên và giúp đỡ một gia đình ở thị trấn nhỏ. Bộ phim là một thất bại thảm hại về mặt thương mại tại phòng vé, đồng thời hứng chịu nhiều đánh giá từ mức trung bình đến tiêu cực.[5]

Culkin in 1991
Ở nhà một mình đã đưa Culkin (trong ảnh chụp năm 1991) trở thành một ngôi sao nhí đình đám.

Vào cuối những năm 1980, nhà làm phim đồng nghiệp John Hughes đã chủ động tìm đến Columbus để mời ông đạo diễn Ở nhà một mình (1990), bộ phim hài do chính Hughes chắp bút. Trước đó, Columbus đã phải rời bỏ dự án National Lampoon's Christmas Vacation ngay trước khi bấm máy do xung đột tính cách gay gắt với nam tài tử Chevy Chase, người mà theo lời Columbus là đã đối xử với ông "không ra gì".[6] Columbus đặc biệt yêu thích chủ đề Giáng sinh trong kịch bản Ở nhà một mình và nhanh chóng gật đầu đồng ý.[7] Sau đó, ông chiêu mộ dàn diễn viên chính gồm Macaulay Culkin, Joe Pesci, Daniel Stern, John Heard và Catherine O'Hara. Quá trình bấm máy kéo dài bốn tháng, từ tháng 2 đến tháng 5 năm 1990. Ra rạp vào ngày 16 tháng 11 năm 1990, bộ phim đã bùng nổ mạnh mẽ về mặt thương mại khi mang về 285 triệu USD tại thị trường Bắc Mỹ cùng 190 triệu USD từ các thị trường quốc tế, nâng tổng doanh thu toàn cầu lên con số 476,7 triệu USD, so với mức kinh phí sản xuất vỏn vẹn 18 triệu USD.[8] Được đề cử cho hai giải Oscar và hai giải Quả Cầu Vàng, bộ phim đã trở thành bệ phóng bứt phá trong sự nghiệp của Culkin.[9][10] Nhà bình luận Dave Kehr từ báo Chicago Tribune đã dành lời khen cho Hughes nhờ khả năng khắc họa những nhân vật đầy chân thực, đồng thời tán thưởng tư duy đạo diễn "hóm hỉnh và ấm áp" của Columbus. Kể từ đó, Ở nhà một mình luôn được tôn vinh như một tác phẩm "kinh điển" không thể bỏ lỡ mỗi dịp lễ hội.[11]

Phong cách làm phim

[sửa | sửa mã nguồn]

Các tác phẩm của Columbus thường khai thác câu chuyện về những gia đình lệch chuẩn, phức tạp, đồng thời đào sâu vào diễn biến tâm lý của những nhân vật phải đối mặt với biến cố mất đi người thân. Ông được đánh giá là một nhà làm phim giàu "giá trị cảm xúc" nhờ cách khắc họa chân thực đời sống gia đình hiện đại."[12][13] Một trong những chủ đề tôi luôn bị mê hoặc là khi nhân vật phải đứng trước nguy cơ đánh mất gia đình và ý nghĩa đằng sau trải nghiệm đó," Columbus chia sẻ vào năm 2017.[14] Ông cũng nổi tiếng với khả năng tạo nên những "phân cảnh bùng nổ cảm xúc" và thừa nhận bản thân luôn bị cuốn hút bởi những mảng cảm xúc mãnh liệt.[15]

Ký giả Burhan Wazir của tờ The Guardian nhận định rằng Columbus ưu ái xây dựng những "mẫu hình người đàn ông, phụ nữ và trẻ em Mỹ bình dị, những người luôn nỗ lực gìn giữ giá trị truyền thống gia đình trước một xã hội biến chuyển đầy áp lực."[16] Năm 1993, Columbus từng bộc bạch:

"Tôi hiểu giá trị của việc phơi bày mặt tối của thế giới trên màn ảnh, nhưng tôi tin điện ảnh vẫn cần những khoảng không gian để thắp lên hy vọng cho khán giả. Nếu một bộ phim không làm được điều đó, tôi nghĩ nó chẳng đáng để thực hiện."[16]

Trang thông tin văn hóa The Take đánh giá Columbus rất mát tay trong việc kiến tạo những bộ phim gia đình ấm áp cùng dàn diễn viên nhí không chuyên, song ông đạt thành công phòng vé mà không cần dựa vào một "dấu ấn nghệ thuật quá khác biệt".[17]

Đáng chú ý, Columbus còn đóng vai trò là người cố vấn chuyên môn cho đạo diễn Robert Eggers kể từ tác phẩm The Witch.[18]

Đời tư

[sửa | sửa mã nguồn]

Columbus hiện đang sinh sống tại thành phố San Francisco.[19][20][21] Trong kỳ bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016, ông đã công khai ủng hộ ứng cử viên Hillary Clinton của Đảng Dân chủ.[22] Bên cạnh công việc đạo diễn và sản xuất phim, ông còn là đối tác tại Ocean Blue Entertainment, mọi công ty nội dung sáng tạo chuyên sâu về lĩnh vực sản xuất điện ảnh.[23]

Danh sách phim

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Tác Phẩm Đạo Diễn Biên Kịch Sản Xuất Ng.
1984 Reckless Không Có Không [24]
Gremlins Không Có Không [25]
1985 The Goonies Không Có Không [26]
Young Sherlock Holmes Không Có Không [27]
1987 Adventures in Babysitting Có Không Không [28]
1988 Heartbreak Hotel Có Có Không [29]
1989 Little Nemo: Adventures in Slumberland Không Có Không [30]
1990 Ở nhà một mình Có Không Không
1991 Only the Lonely Có Có Không [31]
1992 Ở nhà một mình 2: Lạc ở New York Có Không Không [32]
1993 Bảo mẫu giả danh Có Không Không
1995 Nine Months Có Có Có [33]
1998 Mẹ kế Có Không Có [34]
1999 Người máy 200 tuổi Có Không Có
2004 Christmas with the Kranks Không Có Có [35]
2005 Rent Có Không Có [36]
2009 Yêu nhầm hotgirl Có Không Có
2010 Percy Jackson & Kẻ cắp tia chớp Có Không Có
2015 Đại chiến Pixels Có Không Có
2020 Biên niên sử Giáng Sinh 2 Có Có Có [37]
2025 Câu lạc bộ án mạng ngày thứ Năm Có Không Có [38]
Producer only Executive producer only

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ↑ "III. Copyright Infringement". In the Matter of Certain Products with Gremlins Character Depictions: Investigation No. 337-TA-201 (bằng tiếng Anh). United States International Trade Commission. tháng 3 năm 1986. tr. 54. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2023.
  2. 1 2 Tyzack, Anna (ngày 30 tháng 4 năm 2013). "My perfect weekend: Chris Columbus". Daily Telegraph (bằng tiếng Anh). ISSN 0307-1235. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2019.
  3. ↑ "Chris Columbus". People (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2019.
  4. ↑ Allon, Yoram; Cullen, Del; Patterson, Hannah (2002). Contemporary North American film directors : a Wallflower critical guide (ấn bản thứ 2). London: Wallflower. tr. 96. ISBN 1-903364-52-3. OCLC 51480273.
  5. ↑ "Heartbreak Hotel | Rotten Tomatoes". www.rottentomatoes.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2026.
  6. ↑ Hughes, James (ngày 10 tháng 11 năm 2015). "Holy Cow, Home Alone Is 25!". Chicago. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2025.
  7. ↑ Wilkinson, Amy (ngày 6 tháng 11 năm 2015). "'Home Alone' turns 25: A deep dive with director Chris Columbus". Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2019.
  8. ↑ "Home Alone". Box Office Mojo. IMDB.com, Inc. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2019.
  9. ↑ "Home Alone". goldenglobes.com (bằng tiếng Anh). Golden Globes, LLC. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2020.
  10. ↑ "The 63rd Academy Awards | 1991". Oscars.org (bằng tiếng Anh). Academy of Motion Picture Arts and Sciences. ngày 4 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2020.
  11. ↑ "17 Favorite Christmas Movies". HuffPost (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 12 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2019.
  12. ↑ Orr, Christopher (ngày 23 tháng 11 năm 2004). "The Movie Review: 'Harry Potter and the Prisoner of Azkaban'". The Atlantic (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2019.
  13. ↑ "BBC - Films - Chris Columbus". BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2019.
  14. ↑ "Chris Columbus on Why He Made Home Alone, Mrs. Doubtfire, and Every Good Family Movie Ever". Fatherly (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2019.
  15. ↑ Garcia, Denise (ngày 27 tháng 2 năm 2016). "Oscar's need to change amid too many 'horror stories': Director". CNBC (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2019.
  16. 1 2 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "Guardian"
  17. ↑ "How did the "Harry Potter" series evolve as the directors changed". The Take (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 12 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2019.
  18. ↑ "'Nosferatu': How to Make a Robert Eggers Movie, with Help from Mel Brooks and Chris Columbus". ngày 20 tháng 12 năm 2024.
  19. ↑ "Gibbs, George W. and Augusta, House, Pacific Heights, San Francisco, CA". PCAD. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2023.
  20. ↑ "Ellinwood, Charles N., House, Pacific Heights, San Francisco, CA". PCAD. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2023.
  21. ↑ "Mrs. Doubtfire's neighbors move up". The New Fillmore. ngày 2 tháng 10 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2023.
  22. ↑ Johnson, Ted (ngày 7 tháng 10 năm 2016). "Clinton vs. Trump in Hollywood: Who's Giving". Variety (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2024.
  23. ↑ "Ocean Blue Entertainment". oceanblueentertainment.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2019.
  24. ↑ "Reckless (1984) - James Foley | Synopsis, Characteristics, Moods, Themes and Related". AllMovie (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2019.
  25. ↑ "Gremlins (1984) - Joe Dante | Cast and Crew". AllMovie (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2019.
  26. ↑ "The Goonies (1985) - Richard Donner | Cast and Crew". AllMovie (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2019.
  27. ↑ "Young Sherlock Holmes (1985) - Barry Levinson | Cast and Crew". AllMovie (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2019.
  28. ↑ "Adventures in Babysitting (1987) - Chris Columbus | Cast and Crew". AllMovie (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2019.
  29. ↑ "Heartbreak Hotel (1988) - Chris Columbus | Cast and Crew". AllMovie (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2019.
  30. ↑ "Little Nemo: Adventures in Slumberland (1992) - Misami Hata, William T. Hurtz, Masami Hata | Cast and Crew". AllMovie (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2019.
  31. ↑ "Only the Lonely". Time Out London (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2019.
  32. ↑ Maslin, Janet (ngày 20 tháng 11 năm 1992). "Review/Film; Alone Again: Holiday Mischief In Manhattan". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2019.
  33. ↑ Ebert, Roger. "Nine Months movie review & film summary (1995) | Roger Ebert". www.rogerebert.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2019.
  34. ↑ Maslin, Janet (ngày 24 tháng 12 năm 1998). "FILM REVIEW; Stepmommy Dearest? Not at All". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2019.
  35. ↑ "BBC - Movies - review - Christmas With The Kranks". BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2019.
  36. ↑ French, Philip (ngày 8 tháng 4 năm 2006). "Rent". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2019.
  37. ↑ Romano, Nick. "First 'Christmas Chronicles 2' teaser with Goldie Hawn sets November premiere". Entertainment Weekly. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2020.
  38. ↑ Whittock, Jesse (ngày 23 tháng 4 năm 2024). "Helen Mirren, Pierce Brosnan & Ben Kingsley Cast In 'The Thursday Murder Club', Chris Columbus Set To Direct". Deadline Hollywood. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2024.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]